Thực trạng SV ngành CNTT hiện nay

Hiện nay có rất nhiều nơi, nhiều trường mở khoa, bộ môn công nghệ thông tin. Từ đó, nhiều sinh viên giỏi đã trở thành những kỹ thuật viên, lập trình viên, chuyên gia có nhiều đóng góp cho ngành công nghệ thông tin nước nhà.

Thế nhưng, cũng thật khó tin khi có những sinh viên công nghệ thông tin (SV CNTT) năm cuối hẳn hoi mà mang đĩa mềm hoặc USB Flash Disk chứa toàn những file Shortcut (*.lnk) để… in luận văn, cùng nhiều chuyện dở khóc dở cười khác…

 SV CNTT thực hành trên… giấy

B., nhân viên một công ty của Nhật từng học ngành CNTT hệ 3 năm của một trường cao đẳng dân lập kể lại: “Không biết các trường có khoa CNTT khác dạy thế nào, trường tôi dạy CNTT mà toàn ngồi viết giấy không à! Lập trình C++, Asp, Java… toàn viết giấy không. Giờ thực hành so với giờ ngồi viết giấy giống như giờ nghỉ giải lao so với giờ học vậy. Cái gì cũng được học, cái gì cũng biết nhưng rốt cuộc chẳng biết sâu cái gì.

Nguyên cuốn giáo trình Java dày hơn 300 trang, SV được học chỉ trong 45 tiết. Cái phòng máy cho SV CNTT thực tập trường tôi phải mất hơn 5 phút để khởi động computer, vậy thì làm sao mà lập trình với lại phân tích thiết kế hệ thống?”. “Hoảng” với cách học trong trường, B. bèn ra ngoài học sâu về chuyên ngành mà cậu trót đam mê này. Cũng may là công ty nhận B. vào làm mà không đếm xỉa gì đến bằng cấp.

Lại có chuyện khi được hỏi “Có phải hiện nay người ta sử dụng phương pháp lập trình hướng đối tượng (kỹ thuật lập trình hỗ trợ công nghệ đối tượng) để viết phần mềm?” thì câu trả lời của một SV CNTT là “Lập trình hướng đối tượng chỉ mang tính lý thuyết và thực tế người ta không hề áp dụng”! Còn nhiều bạn SV CNTT chính tông cho biết sử dụng internet chủ yếu để chat và e-mail chứ chưa từng vào những trang như sf.net. Thêm một chuyện cô SV CNTT của một trường ĐH tiếng tăm mà có bài tập thực hành thiết kế 1 trang web cũng phải nhờ cậu em lớp 10 làm hộ, bởi toàn học lý thuyết ở trường chứ có được thực hành gì đâu!…

Quả thực, việc giảng dạy CNTT ở đa số trường ĐH, CĐ của ta có một điểm yếu là còn thiên về lý thuyết, ít thực hành, cơ sở vật chất chưa theo kịp với nhu cầu của một ngành có đặc trưng là “học trên máy” này. SV ít được làm các dự án hay bài tập lớn cũng như ít có thói quen, kỹ năng làm việc theo nhóm. Hơn nữa, các khoa/bộ môn CNTT cũng không chia ra thành từng ngành nhỏ như ở nước ngoài mà học “tất tần tật”.

Nhưng thực hành chưa phải là tất cả

Vì thực hành trong CNTT đôi khi chỉ với cái máy tính là vẫn chưa đủ và CTTT không chỉ bó hẹp trong máy vi tính và hệ điều hành. Đa số những SV CNTT giỏi thực sự đều do tự mày mò học và nghiên cứu. Thậm chí có những kẻ “ngoại đạo” lại cực siêu. Thực ra, nhà trường chỉ dạy những kiến thức làm nền tảng và ngày nay khi công nghệ phát triển như vũ bão thì SV phải chủ động tự cập nhật kiến thức. Bên cạnh những tiết “mài đũng quần” nơi giảng đường, SV cần có sự tìm tòi, sáng tạo, đam mê và nỗ lực để biết biến những kiến thức nền tảng đó thành bệ phóng. Như chúng ta thấy kiến thức CNTT trong trường ĐH ở VN cũng khá cao và giảng viên đa số là người đã từng có thời gian học tập, nghiên cứu ở nước ngoài nên phương pháp dạy, tác phong cũng khá an tâm. Có một số môn sử dụng sách tiếng Anh, ở các trường đại học nước ngoài dùng giáo trình “Software Engineering: A practictioner’s approach” thì trường ĐH ở VN cũng dùng giáo trình đó (chỉ khác là bản copy).

Các từ chuyên môn học trong bài giảng cũng được dùng đa số là tiếng Anh, một số giảng viên còn trình bày slide bằng tiếng Anh. Vì thế, tiếng Anh đối với dân CNTT là tối quan trọng nếu chúng ta muốn tiếp cận với sự phát triển của CNTT tiên tiến trên thế giới.

Có một “rào cản” cho thầy và trò CNTT hiện nay là vấn đề cơ sở vật chất. Máy tính là điều kiện tối thiểu nhưng không nhiều SV có máy tính riêng, tới trường thì cũng thiếu nốt. Vậy bạn có đồng ý đóng học phí 100 USD/tháng tại trường để được có điều kiện học như ở các trung tâm kiểu Aptech hay Tata Infotech, SaigonCTT…?

Vấn đề nữa, bạn trẻ cần nhìn CNTT như một công cụ phục vụ đời sống hơn là một cái gì đó biểu hiện cho thời đại, cho sự sành điệu để rồi cố thi cho được vào khoa CNTT trong khi không có đam mê, tìm tòi, không có năng lực. Nếu như vậy, chất lượng của phần lớn SV CNTT sẽ mãi chỉ là “mang đĩa mềm hay USB Flash Disk chứa toàn những file Short Cut (*.lnk) để… in luận văn” và “cắp cặp” cho một em bé lớp 10 mà thôi!

Theo Thanh niên

Foxit Reader – PM đọc file đuôi pdf

Link download: http://files.downloadsmart.net/i/2/0501/9605/b08/Foxit-Reader.exe

Foxit Reader là công cụ hỗ trợ mở, xem và in các loại file PDF. Đây là một chương trình nhỏ gọn với đầy đủ tính năng bao gồm cả khả năng thêm chú thích, điền thông tin hay chia sẻ thông tin qua các mạng xã hội.

Ngoài ra, Foxit Reader còn có một nền tảng bảo mật hiệu quả để ngăn chặn các loại virus độc hại và cung cấp phương thức xác nhận bằng chữ ký điện tử phục vụ cho quá trình trao đổi tài liệu điện tử mà không gây nguy hại cho người sử dụng.

Cho dù bạn là người tiêu dùng, doanh nghiệp, cơ quan chính phủ, hay tổ chức giáo dục, bạn đều muốn đọc và thêm chú thích hay điền thông tin vào tài liệu PDF. Và công cụ bạn đang cần chính là Foxit Reader với tiêu chuẩn đáp ứng được mọi yêu cầu.

Foxit Reader phiên bản mới

Tính năng:

Tích hợp mạng xã hội:

  • Chia sẻ thông tin PDF lên tài khoản Facebook và Twitter.

Điền thông tin vào XFA Form:

  • Công cụ điền XFA (XML Form Architecture) được sử dụng để điền các mẫu với thành phần XFA, cho phép bạn tận dụng các mẫu XFA có sẵn.

Đọc to:

  • Bạn có thể nghe tài liệu PDF khi đang đi trên đường.

Thay đổi nền cho Reader của bạn:

  • Chọn diện mạo từ các màu nền cơ bản.
  • Chọn Normal Toolbar Mode hoặc Tabbed Toolbar Mode.
  • Giao diện đẹp hơn, hoạt động ổn định hơn.

Tùy chỉnh các phím tắt:

  • Tạo phím tắt riêng.
  • Giúp cho công việc nhanh hơn, hiệu quả hơn.
  • Hoàn thành các tác vụ thông thường dễ dàng hơn.

Tìm kiếm comment và bookmark:

  • Dễ dàng tìm kiếm văn bản trong tài liệu PDF.
  • Tìm kiếm với độ chính xác cao hơn.

Microsoft Windows Server:

  • Mở tài liệu PDF đã bảo vệ bằng RMS.

Quyền Active Directory:

  • Nâng cao độ bảo mật thông tin, đáp ứng các yêu cầu tuân thủ.

Hỗ trợ dịch vụ quản lý:

  • Tiết kiệm thời gian và tiền bạc với công cụ xử lý tiên tiến.

Windows Explorer Thumbnails:

  • Hiển thị hình ảnh nhỏ của file PDF trong Windows Explorer.
  • Hiển thị hình ảnh xem trước tài liệu.

Xem trước Outlook:

  • Cho phép bạn xem trước đính kèm PDF trong Microsoft Outlook 2003, 2007, và 2010.

Chỉ hiển thị nội dung trang PDF để vừa vặn với chiều rộng của cửa sổ.

Xem dạng chia nhỏ:

  • Xem PDF với bảng tài liệu được chia làm 2 hoặc 4.
  • Hỗ trợ cấu hình nhiều cửa sổ, dễ dàng truy cập.
  • Dễ dàng kiểm soát.

Khả năng của Foxit Reader:

Xem các tập tin PDF

Foxit Reader cung cấp cho bạn nhiều phương thức khác nhau để đọc các tập tin PDF như: trình duyệt nhiều tab, chế độ giao diện tài liệu đơn, và chế độ giao diện nhiều tài liệu. Tính năng trình duyệt nhiều tab cho phép bạn mở nhiều tập tin khác nhau vào cùng một thời điểm. Nếu bạn đã mở một tập tin PDF bất kỳ và sau đó click đúp vào một tập tin PDF khác, nó sẽ được mở trong cùng cửa sổ nhưng ở tab khác.

Chế độ giao diện tài liệu đơn cho phép bạn mở nhiều giao diện của Foxit Reader. Foxit Reader sẽ tạo ra một cửa sổ mới khi bạn click đúp để mở tập tin PDF mới, điều này rất hữu ích khi xem nhiều tập tin khác nhau cùng lúc. Chế độ giao diện nhiều tài liệu thiết lập nhiều tài liệu khác nhau dưới một cửa sổ chính, khác với tất cả cửa sổ độc lập với nhau (giao diện tài liệu đơn). Để xem một danh sách các cửa sổ đã mở trong Foxit Reader, người sử dụng thường phải click vào nút Restore Down ở góc trên cùng bên phải của cửa sổ Foxit Reader. Outlook Preview cho phép người sử dụng xem trước đính kèm PDF trong Microsoft Outlook 2003, 2007, và 2010. Tính năng Read Mode cung cấp trải nghiệm đọc rõ ràng hơn thông qua việc giảm thiểu các thành phần phụ của menu và thanh công cụ.

Tích hợp DocuSign

Foxit Reader cung cấp chức năng tích hợp vào DocuSign, cho phép người sử dụng dễ dàng gửi, đăng ký và lưu trữ các tài liệu và form PDF thông qua việc sử dụng giải pháp chữ ký điện tử hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thị trường. Những người sử dụng mới có thể đăng ký các dịch vụ DocuSign. Còn những người sử dụng hiện tại có thể đăng nhập vào DocuSign để đăng ký và gửi các tài liệu và form PDF nhanh chóng từ thanh công cụ của Foxit Reader.

Nghe các tập tin PDF

Foxit Reader có thể cung cấp chức năng thoại để đọc tài liệu PDF của bạn. Điều này đặc biệt hữu dụng khi bạn đang trên đường đi và không thể đọc từ màn hình nào đó. Read Out Loud sử dụng các giọng điệu sẵn có được cài đặt trên hệ thống. Nếu bạn đã cài đặt Speech Application Programming Interface 5 (SAPI 5) để chuyển văn bản sang giọng nói, bạn có thể lựa chọn để Foxit Reader đọc các tài liệu PDF. Ngoài nội dung văn bản thông thường, Read Out Loud còn có thể đọc các lời bình luận, mô tả hình ảnh, và trường có thể điền thông tin.

Tích hợp các hệ thống mạng xã hội

Đối với người sử dụng Facebook và Twitter, Foxit Reader sẽ cung cấp tính năng tích hợp vào hệ thống mạng xã hội của họ. Người sử dụng Foxit Reader có thể đăng nhập vào tài khoản của họ, lựa chọn văn bản (đoạn) từ tài liệu PDF, và chia sẻ nó như là status trên Facebook hoặc Twitter. Người sử dụng cũng có thể chụp lại hình ảnh một phần nào đó của tài liệu và chia sẻ nó dưới dạng hình ảnh trên Facebook hoặc Twitter. Thêm vào đó, người sử dụng còn có thể chia sẻ tài liệu hiện thời, hay lựa chọn tài liệu từ Windows Explorer, và chia sẻ tài liệu đó thông qua chức năng chia sẻ tập tin OnDemand CM của Foxit dưới dạng đường link từ các tài khoản Facebook và Twitter của họ. Tính năng tích hợp hệ thống mạng xã hội được sử dụng như là một plug-in của Foxit Reader.

Điền form chuẩn và XFA

Có hai loại tập tin form. Một loại là tập tin PDF với các trường có thể điền vào, cho phép bạn điền form trực tiếp bằng cách click các trường của form mà không sử dụng những tính năng khác. Loại này được gọi là form PDF tương tác. Loại form thứ hai là tập tin PDF trắng với các dòng dành cho văn bản để bạn điền vào thông qua tính năng typewriter trong Foxit Reader. Đây được gọi là form PDF không tương tác. Bạn sẽ cần phải điều hướng và điều chỉnh tầm nhìn của một form theo như cách thực hiện với các tập tin PDF thông thường. Thêm vào đó, chức năng điền form XFA hỗ trợ Foxit Reader được sử dụng để điền các mẫu biểu với các thành phần XFA, cho phép bạn tận dụng các mẫu XFA sẵn có.

Điều hướng các tài liệu

Foxit Reader cung cấp bộ kiểm soát dễ sử dụng để điều hướng qua các tài liệu PDF. Bạn có thể điều hướng trong tài liệu PDF bằng cách chuyển trang hoặc sử dụng các công cụ điều hướng như bookmark, xem trang dưới dạng ảnh nhỏ, link và hoạt động với các lớp. Bookmark hiển thị danh sách các bookmark mà có trong tài liệu. Nói chung, đây là bảng hiển thị nội dung đại diện cho các chương, tiêu đề chính, và các thành phần tổ chức trong tài liệu. Page thumbnail là phiên bản giảm thiểu kích cỡ của các trang PDF. Nó cung cấp chức năng xem trước các trang tài liệu dưới dạng ảnh nhỏ và giúp người sử dụng dễ dàng xem và nhận diện chúng. Link đưa bạn đến một địa điểm khác trong tài liệu hiện thời, hoặc tới các địa điểm trong những tài liệu hay trang web khác. Việc click vào một đường link trên các tài liệu PDF cũng giống như trong những ứng dụng khác.

Bảng layer

Một layer hay còn được biết đến với cái tên Optional Content Groups (OCG), là một cuốn từ điển hiển thị bộ sưu tập các đồ họa có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy bởi người sử dụng với các ứng dụng xem. Trong tập tin PDF, mỗi layer có thể giữ một phần của các vật thể tài liệu, và những layer này có thể hiển thị hoặc làm ẩn những vật thể chứa trong đó.
Với Foxit Reader, bạn có thể kiểm soát sự hiển thị của các lớp PDF thông qua bảng layer. Ví dụ, bạn có thể phân chia hình ảnh nền, khu vực nội dung chính, và các quảng cáo giữa những lớp cấp độ cao của chúng, và dễ dàng ẩn các layer mà bạn không muốn người khác xem.

Tìm kiếm văn bản

Foxit Reader cung cấp cho người sử dụng các công cụ hữu hiệu để tìm kiếm văn bản. Bạn có thể tìm kiếm văn bản trong các tập tin PDF, thư mục, ổ đĩa, và cả trên Internet. Ngoài ra, bạn còn có thể giới hạn tìm kiếm của bạn bằng cách lựa chọn các tùy chọn được cung cấp trên hộp thoại Find Text để tìm kiếm các mục nhất định.

Xác thực chữ ký kỹ thuật số

Foxit Reader giờ đây sử dụng công nghệ xác thực chữ ký kỹ thuật số trên PDF với chu trình ISO 32000 nhằm đảm bảo rằng chữ ký đó là thực và cả tài liệu hoặc chữ ký chưa bị xâm nhập. Chu trình xác thực mới này cung cấp nền tảng an toàn và đáng tin cậy cho việc trao đổi các tài liệu điện tử mà không đặt người sử dụng vào nguy cơ nhận được tài liệu giả mạo.

Gửi Email các tài liệu

Bạn có thể cần gửi đi một tập tin PDF mà bạn đang đọc cho khách hàng nhằm đẩy mạnh công việc hàng ngày của mình, hoặc một câu chuyện hấp dẫn mà bạn muốn giới thiệu cho bạn bè. Việc này có thể thực hiện rất dễ dàng trong Foxit Reader.

Lưu trữ các tài liệu

Foxit Reader cung cấp cho bạn tính năng lưu trữ các tài liệu PDF. Bạn có thể lưu trữ tài liệu PDF mà không phải có quyền sử dụng thêm trong nhiều cách thức khác nhau. Nếu quyền cấp phép tập tin cho phép, bạn còn có thể lưu trữ các lời bình luận, trường mẫu biểu mà bạn đã thêm vào tài liệu, cũng như lưu trữ nội dung PDF dưới dạng văn bản.

Thêm các lời bình luận

Một lời bình luận được viết ra dưới dạng lời giải thích, minh họa, hoặc câu tuyên ngôn của sự thực hay chính kiến, đặc biệt là phản ánh được ngay hành động và thái độ của một người nào đó. Bạn có thể nhập tin nhắn văn bản hoặc thêm dòng, vòng tròn, hoặc hình dạng khác để viết lời bình trên các tập tin PDF mà bạn đang đọc với công cụ lời bình của Foxit Reader. Nhiều dạng lời bình luận có chứa cửa sổ pop-up hiển thị tên của bạn; ngày và thời gian bạn tạo ra lời bình, và tin nhắn văn bản. Ngoài ra, bạn còn có thể chỉnh sửa, phản hồi, xóa, và di chuyển các lời bình một cách dễ dàng. Chức năng này khá hữu ích cho việc học tập và công việc của bạn nếu bạn phải ghi ra một vài chú thích trên tài liệu PDF. Foxit Reader có các công cụ tạo lời bình sau: Annotation, Note Comments, Spell Checker, Text Markup, Text Select Tool, Drawing Markup, Typewriter Tool, Adding Text Box,…

Tích hợp Microsoft SharePoint và Active Directory Rights Management Service

Các tính năng tích hợp chính bao gồm:

  • Giải mã tập tin PDF, cho phép người sử dụng giải mã các tập tin PDF tuân thủ AD RMS 2.0 vì vậy người sử dụng cùng với những thông tin chính xác có thể truy cập vào chúng dựa trên các quyền hạn đã được cấp.
  • Hỗ trợ Microsoft Office Workflows – Cung cấp trải nghiệm người sử dụng đã có nhằm bảo vệ các tài liệu PDF trong workflow tương tự như bảo vệ tài liệu Microsoft Office.
  • Hoạt động với SharePoint – Giải mã và mở các tập tin đã bảo vệ AD RMS 2.0 trên SharePoint server.
  • Kiểm tra tập tin SharePoint – Cho phép người sử dụng liên tục kiểm tra các tập tin PDF được đặt trong SharePoint thông qua Foxit Reader.
  • AD RMS 2.0 Protect PDF Plug-in Module – Plug-in này cho phép người sử dụng mã hóa các tập tin PDF tuân thủ với AD RMS 2.0.
  • IRM Compliant – Tuân thủ với Microsofts IRM Protection for PDF Specification Supplement for ISO 32000.

Hỗ trợ JavaScript

JavaScript là một ngôn ngữ năng động dựa trên nguyên mẫu cùng với các chức năng hàng đầu, hoạt động giống như phương tiện để dễ dàng tạo ra các trang web tương tác. Trong Foxit Reader, bạn có thể dễ dàng tích hợp cấp độ tương tác này vào trong các tài liệu PDF của mình. Với Foxit Reader, bạn có thể tạo các mã JavaScript sử dụng hoạt động liên kết với tài liệu, bookmark, link, và trang. Foxit Reader cung cấp cho bạn 2 tùy chọn để thực hiện việc đó – JavaScript Console và Document JavaScript. JavaScript Console cung cấp giao diện tương tác và thuận tiện cho việc kiểm tra các phần của mã JavaScript và thử nghiệm với các thuộc tính và phương pháp vật thể. Dòng lệnh Document JavaScript cho phép bạn tạo ra các hoạt động JavaScript cấp độ tài liệu mà áp dụng cho toàn bộ tài liệu đó.

In ấn

Đây là một quá trình để tái tạo các văn bản và hình ảnh. Khi bạn kết thúc việc đọc một bài báo hữu ích hoặc thiết kế mẫu PDF, có thể bạn sẽ cần gửi nó vào máy in mực hoặc máy in lazer và in nó ra với kích cỡ trang tùy chỉnh. Với lựa chọn này, bạn có thể nhận được hỗ trợ để thiết lập các tùy chọn trong hộp thoại Print nhằm đảm bảo rằng tài liệu đã đọc xong được in ra như ý muốn.

Tùy chỉnh

Thay đổi phông nền Reader của bạn để lựa chọn diện mạo khác nhau từ kho phông nền cơ bản chỉ với một vài cú nhấp chuột. Tùy chỉnh các phím shortcut để tạo ra những phím tắt tùy chỉnh cho riêng bạn, nhằm giúp người dùng làm việc nhanh chóng và hiệu quả đồng thời dễ dàng hoàn thiện các tác vụ thông thường hơn.

Tính năng mới của Foxit Reader 5.4:

  • Gửi, ký tên và lưu các tài liệu PDF bằng cách sử dụng eSignature.
  • Sửa lỗi bảo mật khi ứng dụng không an toàn load các thư viện có thể tấn công/gây ảnh hướng tới ứng dụng.

Yêu cầu hệ thống:

  • Bộ vi xử lý: 1.3 GHz trở lên.
  • RAM: 64 MB (khuyên dùng 128 MB trở lên).
  • Ổ cứng trống: 52 MB.
  • Độ phần giải màn hình: 800×600.

7 sự khác biệt chính giữa Windows và Linux

 Linux đã đã cho thấy sự tiến bộ vượt bậc so với một thập kỷ trước, nâng bản thân nó từ một hệ điều hành mã nguồn mở trở nên thực sự hữu dụng với mọi người. Nhiều người đã quay lưng lại với Windows để đến với các bản phân phối miễn phí của Linux.

Trước khi cân nhắc chuyển từ Windows sang Linux hoặc ngược lại, người dùng nên nắm được sự khác nhau cơ bản giữa hai hệ điều hành này. Dưới đây là 7 khác biệt lớn nhất giữa Linux và Windows.

Cấu trúc file

cấu trúc file

Cấu trúc cơ sở của Linux khác hoàn toàn so với Windows. Nó được phát triển trên một mã gốc riêng với các nhà phát triển riêng rẽ. Bạn sẽ không tìm thấy thư mục My Documents trên Ubuntu hay Program Files trên Fedora. Cũng không có các ổ đĩa C: hay D: xuất hiện.

Thay vào đó, có một cây dữ liệu và các ổ đĩa được bung vào cây đó. Tương tự, thư mục home và desktop đều là một phần trong cây dữ liệu. Về mặt kỹ thuật, bạn sẽ cần tìm hiểu một hệ thống và kiến trúc file mới hoàn toàn. Thực tế thì việc này không quá khó nhưng sự khác biệt vẫn là rõ rệt.

Không có Registry

registry

Registry trong Windows là một cơ sở dữ liệu chủ cho toàn bộ các thiết lập nằm trên máy tính. Nó nắm giữ thông tin ứng dụng, mật khẩu người dùng, thông tin thiết bị…

Linux không có registry. Các ứng dụng trên Linux lưu thiết lập của mình trên cơ sở chương trình dưới sự phân cấp người dùng. Với ý nghĩa này, những cấu hình của Linux ở dạng mô đun. Người dùng sẽ không tìm thấy một cơ sở dữ liệu tập trung nào cần dọn dẹp định kỳ tại đây.

Trình quản lý gói

quản lý gói

Trên Windows người dùng sẽ phải sử dụng các gói cài đặt. Đây là những file exe của chương trình muốn cài được tải về thông qua các website. Và khi cần gỡ, ta sẽ phải vào Control Panel.

Nhưng với hầu hết các hệ thống Linux, bạn sẽ không phải cài đặt chương trình theo cách này nữa. Thay vào đó, hệ thống có một chương trình quản lý gói (package manager) giống như một trung tâm duyệt web, cài đặt hay gỡ bỏ gói chương trình. Thay vì truy cập website Firefox, bạn có thể chỉ cần tra trong các kho lưu dữ liệu của trình quản lý gói và tải về trực tiếp ứng dụng từ đây.

Đây là một trong những ưu điểm của Linux so với Windows.

Giao diện thay đổi được

giao diện

Giao diện của Windows không có quá nhiều đổi khác trong một thời gian dài. Với Windows Vista, đó là Aero. Trước đó, XP đã tạo một số thay đổi nhỏ so với Windows Classic. Nhưng Start Menu, Taskbar, System Tray, Windows Explorer, tất cả về cơ bản vẫn giống nhau.

Với Linux, Giao diện hoàn toàn tách rời với hệ thống lõi. Bạn có thể đổi môi trường giao diện mà không cần lo lắng xem có phải cài lại chương trình hay không. Có nhiều giao diện như GNOME, KDE hay gần đây hơn là Unity cùng nhiều giao diện ít biết đến khác tập trung vào các khía cạnh khác nhau cho bạn lựa chọn.

Lệnh đầu cuối

dòng lệnh

Linux có được tiếng là hệ điều hành dành cho các tín đồ máy tính và điều này đạt được chủ yếu là nhờ vào sự phổ biến của giao diện dòng lệnh (terminal). Đây là một hộp đen với chữ xanh truyền thống để ta có thể sử dụng các lệnh thực thi. Nói cách khác, nó giống như Command Prompt của Windows.

Nếu muốn chuyển sang dùng Linux thì bạn phải học các cấu trúc lệnh vì sẽ phải sử dụng chúng thường xuyên. Giao diện đồ họa dễ sử dụng nhưng chắc chắn không mạnh mẽ và hiệu quả bằng giao diện dòng lệnh.

Các thiết lập điều khiển

Do Windows thống trị thị trường PC nên các nhà sản xuất driver đều tập trung vào hệ điều hành này. Điều này có nghĩa các công ty như AMD và Nvidia ưu tiên Windows hơn Linux. Do vậy, nếu tất cả bạn cần chỉ là xử lý văn bản, một trình duyệt web, chat và email thì Linux là lựa chọn chấp nhận được. Nhưng nếu muốn chơi game thì bạn cần suy xét kỹ.

Tính tự do

Trên hết, môi trường Linux thực sự môi trường mở cho mọi người khám phá, học hỏi và thử nghiệm ý tưởng của họ. Mỗi máy tính Linux là duy nhất, và tính duy nhất xuất phát từ việc phải cá nhân hóa các thiết lập cho phần cứng.

Kết luận

Đây là các điểm khác nhau cơ bản giữa hai nền tảng điều hành máy bàn phổ biến nhất hiện nay. Hi vọng rằng, nó sẽ giúp bạn đưa ra quyết định chính xác cho mình khi cân nhắc chuyển đổi hệ điều hành.

Theo QTM

“Dọn” e-mail cũ cho gọn hộp thư Gmail

Giả sử trong thư mục Inbox của Gmail chứa hàng ngàn e-mail, mỗi lần tìm kiếm khá vất vả, chắc hẳn bạn sẽ muốn dọn bớt những e-mail cũ để hộp thư được thoáng hơn.

“Dọn” e-mail cũ cho gọn hộp thư Gmail

Nếu bạn đã dùng Gmail trong thời gian dài, chắc hẳn có một lượng lớn thư điện tử “chồng chất” trong hộp thư của bạn. Thực tế, thư mục Inbox trong Gmail có thể chứa đến hàng trăm, hàng ngàn hay thậm chí hàng chục ngàn bức thư.

Bạn hoàn toàn có thể dọn dẹp các thư cũ trong hộp thư để mọi thứ gọn gàng hơn. Thao tác này không hẳn là bạn xóa sạch tất cả thư cũ, mà đơn giản là di chuyển chúng vào “nhà kho” của Gmail. Bạn có thể vào nhà kho bằng cách nhấn All Mail nằm ở trình đơn bên trái. Cách làm như sau:

1. Mở trình duyệt web, gõ địa chỉ Gmail và đăng nhập vào tài khoản Gmail của bạn.

2. Bên cạnh nút Search the Web ở phía trên cùng, bạn hãy nhấn Create a filter

3. Tiếp đó, trong ô “Has the words”, ví dụ bạn gõ vào before:2011/01/01, nghĩa là khi đó nó sẽ lưu tất cả những thông điệp được tiếp nhận trước ngày 1/1 của năm 2011. Bạn có thể gõ vào bất cứ ngày nào bạn muốn, miễn là phải phù hợp với định dạng có sẵn là YYYY/MM/DD (năm/tháng/ngày).

4. Sau đó, nhấn nút Next Step.

5. Đánh dấu vào hộp thư Skip the Inbox (Archive it), sau đó đánh dấu vào hộp Also apply filter to ### conversations below.

6. Cuối cùng, nhấn Create Filter. Phụ thuộc bạn có bao nhiêu thông điệp nằm trong điều kiện (ở bước 3 nói trên), tiến trình xử lý mất khoảng 1 hay 2 phút.

Khi bạn thực hiện xong xuôi 6 bước thì Inbox của bạn sẽ trở nên gọn gàng hơn. Hãy nhớ rằng, bạn không mất thông điệp nào cả, đơn giản là bạn chỉ di chuyển những mail cũ vào một vị trí mới mà thôi.

Theo PC World VN

5 ứng dụng thay thế cho PowerPoint

Nếu đang dùng bộ ứng dụng văn phòng, bạn chắc sẽ có PowerPoint, phần mềm trình chiếu rất dễ sử dụng và được nhiều người dùng lẫn các chuyên gia thường phải làm bài thuyết trình ưa thích. Bạn thích phần mềm này hay ghét nó? Nếu ghét phần mềm này và không muốn sử dụng nó nữa, bạn có thể chọn phần mềm khác. Có rất nhiều ứng dụng thay thế và chúng hoàn toàn có khả năng thực hiện công việc tốt.

1: Impress

OpenOffice.org Impress là một phần của bộ ứng dụng miễn phí OpenOffice.org. Giao diện người dùng, như ở hình A, cũng tương tự với PowerPoint 2003. Nếu đã từng sử dụng PowerPoint, bạn sẽ có thể nhanh chóng và dễ dàng dùng Impress chỉ trong vài phút. Giống như PowerPoint, Impress cung cấp cho người dùng các slide và layout, hình động, hiệu ứng chuyển,… rất chuyên nghiệp.

Impress
Hình A: OpenOffice.org Impress giống với PowerPoint 2003.

Về mặt kỹ thuật, OpenOffice.org Impress miễn phí (và mã nguồn mở). Nếu sử dụng nó, hãy cân nhắc tới việc đóng góp để duy trì cộng đồng này.

2: Prezi

Trong trường hợp bạn đang tìm kiếm ứng dụng trình chiếu đám mây, hãy thử dùng Prezi.com. Nó sử dụngAdobe Flash để nhanh chóng tạo bài trình chiếu động sắc nét. Với Prezi, không có slide nào cả. Thay vào đó, bạn lưu trữ mọi thứ trên một bức tranh khổng lồ sau đó dàn dựng cho buổi trình chiếu. Để tạo một Prezi mới, điền tên và miêu tả (giống như Hình B). Sau đó, chọn một Prezi trống hoặc một template (lần đầu tiên sử dụng Prezi, bạn sẽ có cơ hội thấy một hướng dẫn ngắn). Hình C hiển thị một Prezi trống, sẵn sàng để người dùng nhập chữ và đồ họa. Bạn thậm chí còn có thể chuyển đổi các slide của Powerpoint sang Prezi.

Prezi

Hình B: Tất cả Prezis đều bắt đầu như này.

Prezi 2
Hình C: Thêm chữ và đồ họa cho trình chiếu vào bức tranh khổng lồ này.

Mặc dù Prezi rất dễ sử dụng, nó cũng có đủ độ khó để khiến bạn phải “đầu tư” thời gian. Khả năng zoom tự nhiên của Prezi giúp ích rất nhiều cho công cụ này, nhưng cũng không thể áp dụng cho tất cả các trình chiếu. Khi áp dụng đúng vào bài, đây sẽ là công cụ tuyệt vời.

Người dùng có thể sử dụng công cụ này miễn phí trên đám mây, nhưng tất cả thành quả của bạn đều được public. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể download chúng về và trình chiếu ngoại tuyến. Với mức phí $59 một năm cho phiên bản Enjoy hoặc mức phí $159 một năm cho phiên bản Pro, bạn sẽ nhận được hỗ trợ đầy đủ từ nhà cung cấp.

3: Google Presentation

Nếu chưa bao giờ thử Google Docs Presentation, chúng tôi khuyên bạn nên dùng. Google gần đây đã điều chỉnh lại ứng dụng này và giờ đây nó có thể cung cấp nhiều tính năng hơn trước kia. Chỉ cần truy cập vàoGoogle.com và chọn dữ liệu từ menu More. Nếu chưa có tài khoản, bạn sẽ phải tạo lấy một cái. Khi đã đăng nhập vào, kích vào Create và chọn Presentation. Sau khi làm việc với hướng dẫn sử dụng, giao diện người dùng sẽ xuất hiện (hình D). Ứng dụng trên web này yêu cầu phiên bản mới nhất của trình duyệt Internet Explorerhoặc Chrome để nó có được nhiều tính năng nhất. Google Docs miễn phí, nhưng bạn lại làm việc trên đám mây.

Google Presentation
Hình D: Giao diện của Google Docs Presentation rất thiết thực nhưng hiệu quả.

4: SlideRocket

Một ứng dụng trình chiếu trên Web khác, SlideRocket, cung cấp cho người dùng một số hình động và hiệu ứng di chuyển cao cấp và rất ấn tượng. Đây là lựa chọn tuyệt vời để tạo trình chiếu web. Tìm kiếm và thêm nội dung trên web chỉ với một vài cú kích. Giao diện của ứng dụng này ban đầu có thể chưa quen với người mới dùng, vậy nên bạn có thể xem qua hướng dẫn. Người dùng có thể sẽ phải dành nhiều thời gian nhất để làm việc với cửa sổ Editing, như trong hình E. Đây có thể là sự thay thế hoàn hảo nhất khi so sánh với PowerPoint. Tuy nhiên, phiên bản miễn phí chỉ cho bạn đăng tải địa chỉ URL của trang web, không thể xem lại chúng khi ngoại tuyến. Với mức phí $24 một tháng/một người dùng, bạn có thể download bài trình chiếu của mình về giống theo dạng file PowerPoint hoặc file PDF.

SlideRocket

Hình E: Chỉnh sửa các slide trong cửa sổ Editing.

5: Flair

Flair được cung cấp bởi Wildform là ứng dụng desktop có thể tạo bài trình chiếu dựa trên Flash. Nó không yêu cầu người dùng biết đến Flash mới có thể sử dụng. Đó chính là ưu điểm lớn nhất của Flair. Bên cạnh đó, ngay cả ở mức giá $199, nó vẫn rẻ hơn so với Flash, vậy nên nó cũng được coi là “món hời” khi người dùng đầu tư. Nhìn chung, Flair rất dễ sử dụng. Sức mạnh của nó nằm ở khả năng ghi video và audio được tích hợp sẵn, rất hữu dụng khi dùng để tạo hướng dẫn sử dụng sản phẩm mới. Phần mềm này cũng có thể chuyển đổi các file PowerPoint sang định dạng Flash. Giao diện Edit User, như ở hình F, đủ đơn giản để người dùng làm quen. Thêm vào đó, còn rất nhiều hướng dẫn và template trực tuyến được cung cấp để hỗ trợ người dùng.

Flair

Hình F: Sử dụng chế độ Edit để tạo và chỉnh sửa các slide.

Về giá, người dùng có thể download phiên bản dùng thử. Sau đó, nếu muốn tiếp tục sử dụng, bạn có thể mua key.

Theo QTM

10 cách sử dụng tính năng Paste trong Excel

Lệnh Paste Special xuất hiện ở hầu hết các ứng dụng văn phòng, nhưng có lẽ người dùng Excel vẫn được hưởng lợi từ lệnh này nhiều nhất. Sử dụng tính năng cơ bản này – cũng như các lựa chọn Paste khác – người dùng có thể thực hiện một số tác vụ thông thường cùng một số vấn đề phức tạp hơn. Những thủ thuật này rất dễ thực hiện và chắc chắn bạn sẽ sử dụng chúng nhiều hơn trước đây một khi đã biết tới chúng.

Trong Excel 2007 và 2010, Paste nằm trong nhóm Clipboard ở thẻ Home. Trong Excel 2003, Paste Special trong menu Edit. Đối với những ai hay dùng phím tắt, chúng tôi có một bảng ở cuối bài, bao gồm những phím tắt để thực hiện hành động phổ biến.

1: Copy chiều rộng của cột

Khi copy dữ liệu sang một cột mới, độ dài của cột sẽ không tự động điều chỉnh sao cho phù hợp với giá trị mới. Chỉ với một cú kích thêm, bạn có thể copy chiều rộng gốc của cột tới cột mục tiêu:

a. Chọn dữ liệu cần copy và nhấn [Ctrl] + C để copy giá trị đã chọn tới Clipboard.

b. Chọn một ô trong cột mục tiêu.

c. Ở thẻ Home, kích vào lựa chọn Paste trong nhóm Clipboard và chọn Keep Source Column Widths. Lựa chọn này sẽ yêu cầu thêm một bước nữa khi bạn sử dụng Excel 2007: Chọn Paste Special từ menu Pastedạng drop-down. Tiếp đến, kích vào lựa chọn Column Widths trong mục Paste và kích OK.

Excel sẽ copy dữ liệu và chiều rộng gốc của cột vào ô mục tiêu.

Copy chiều rộng của cột

2: Thực hiện các phép tính

Người dùng có thể sử dụng Paste Special để cộng, trừ, nhân và chia. Chỉ cần điền số rồi nhấn [Ctrl] + C. Sau đó, chọn giá trị bạn muốn thay đổi bằng số vừa mới điền và kích Paste Special trong nhóm Clipboard. Ở cửa sổ kết quả, kích vào phép tính phù hợp rồi nhấn OK. Excel sẽ thực hiện hành động tương ứng bằng cách sử dụng giá trị bạn mới copy vào Clipboard.

Người dùng cũng có thể thực hiện các phép tính với nhiều giá trị. Sử dụng quá trình tương tự như bên trên, nhưng copy một dãy các giá trị thay vì chỉ copy một như bên trên. Excel sẽ không để ý tới kích thước nếu không đủ, nó chỉ thực hiện các phép tính lần lượt theo thứ tự các giá trị đã copy.

3: Hoán đổi dữ liệu

Excel cung cấp cho người dùng tính năng hoán đổi, nhưng đôi khi Paste Special lại là cách nhanh hơn khi thực hiện việc này. Chọn dữ liệu ngồn và thực hiện theo các hành động sau:

a. Nhấn [Ctrl] + C để copy dữ liệu vào Clipboard.

b. Chọn ô trên cùng bên trái của dòng mục tiêu.

c. Kích vào thẻ Home (nếu cần) và chọn Transpose từ menu Paste dạng drop-down.

Đó chính là những gì người dùng cần làm. Từ giờ, bạn có thể copy một cột dữ liệu tới một hàng và ngược lại.

4: Thay thế công thức bằng kết quả đã tính toán

Thi thoảng, người dùng có thể muốn thay thế công thức với giá trị thực tế của nó. Ví dụ, bạn muốn thay thế một dãy hàm RAND() với giá trị của nó thay vì cho phép công thức này tự tính toán. Đây là một tác vụ thông dụng đối với Paste Special. Để copy công thức với giá trị của chúng, thực hiện theo những hành động sau:

a. Chọn một dãy các công thức rồi nhấn [Ctrl] + C.

b. Trong nhóm Clipboard, kích vào menu Paste dạng drop-down.

c. Chọn Values.

Thực hiện như vậy để thay thế các công thức với giá trị thực của chúng. Trước khi sử dụng phương pháp này, có thể bạn muốn sao lưu công việc của mình để đề phòng.

Thay thế công thức bằng kết quả đã tính toán

Thủ thuật sử dụng chuột để thực hiện tác vụ:

a. Chọn dãy.

b. Phải chuột vào đường biên và kéo dãy đó tới cột (hoặc hàng) bên cạnh.

c. Kéo dãy đã chọn quay trở lại nguồn. Điều này sẽ bắt Excel hiển thị menu phím tắt, mà không cần chuyển các giá trị đã chọn.

d. Chọn Copy Here As Values Only.

5: Copy định dạng

Hầu hết chúng ta sử dụng Format Painter để copy định dạng từ ô này sang ổ khác hoặc sang một hàng nào đó. Tuy nhiên, khi sử dụng Format Painter có đôi chút bất tiện với toàn bộ cột hoặc dòng. Dưới dây là cách sử dụng Paste Special để thay thế:

a. Chọn ô có chứa định dạng bạn muốn copy và nhấn [Ctrl] + C.

b. Kích vào bên trong cột hoặc dòng bạn muốn định dạng. (Nhấn [Ctrl] + Spacebar để lựa chọn toàn bột cột hoặc [Shift] + Spacebar để chọn toàn bộ hàng).

c. Với cột hoặc hàng đã chọn, chọn Formatting từ menu Paste dạng drop-down trong nhóm Clipboard. Excel 2007 yêu cầu thêm một bước phụ nữa: Chọn Paste Special từ menu Paste dạng drop-down, kích Formatstrong mục Paste và kích OK.

6: Copy định dạng biểu đồ

Người dùng có thể phải mất nhiều công sức để định dạng cho biểu đồ sao cho thật đẹp và sau đó lại phải thực hiện lại tất cả công việc tương tự với loại dữ liệu khác. Trong trường hợp này, đừng nên tái định dạng lại biểu đồ mới mà hãy sử dụng Paste Special. Giả thuyết này cũng tương tự như cách số 5, nhưng các bước thực hiện có đôi chút khác biệt:

a. Chọn biểu đồ với định dạng bạn muốn copy và nhấn [Ctrl] + C.

b. Chọn biểu đồ bạn muốn định dạng rồi chọn Paste Special từ menu Paste dạng drop-down. Excel sẽ hiển thị hộp thoại Paste Special, với 3 lựa chọn.

c. Chọn Formats và kích OK.

Excel phản ứng khác biệt khi copy định dạng biểu đồ, nhưng nó có thể dễ dàng hoàn thành tác vụ.

7: Bỏ qua một loạt các ô có giá trị trống

Sử dụng lựa chọn Skip Blanks, bạn có thể thay thế giá trị hiện tại trong khi vẫn bỏ qua những ô không có giá trị trong dữ liệu gốc. Nói theo cách khác, nếu có một ô trống trong dữ liệu gốc và một giá trị trong dãy cần paste tương ứng, lựa chọn này không thay thế giá trị hiện tại bằng ô trống. Bạn có thể sử dụng nó với tất cả các lựa chọn khác:

a. Chọn dãy dữ liệu gốc và nhấn [Ctrl] + C.

b. Chọn ô trên cùng bên trái ở dãy mục đích.

c. Từ menu Paste dạng drop-down rồi chọn Paste Special.

d. Tích vào lựa chọn Skip Blanks và kích vào OK.

Excel sẽ không ghi đè giá trị hiện tại bằng ô trống.

Bỏ qua một loạt các ô có giá trị trống

8: Copy Data Validation

Sau khi bỏ thời gian ra để thiết lập rule hoặc danh sách Data Validation để cải thiện nhập dữ liệu, có thể bạn sẽ muốn áp dụng rule tương tự đối với ô hoặc dãy khác. Tin tốt là bạn không phải thực hiện lại toàn bộ các bước bên trên. Sử dụng Paste Special, bạn chỉ việc copy lại là được:

1. Chọn ô có chứa rule Data Validation và nhấn [Ctrl] + C.

2. Chọn ô mục tiêu cần paste.

3. Từ menu Paste dạng drop-down, chọn Paste Special.

4. Kích vào lựa chọn Validation rồi kích vào OK.

Thiết lập Data Validation có thể gây nhàm chán và tốn thời gian; Paste Special là cách dễ dàng hơn nhiều!

9: Xóa văn bản trên Web

Khi copy văn bản từ Web, bạn có thể gặp rắc rối bởi Excel vẫn giữ nguyên định dạng gốc. Nhìn chung, đây không phải là điều bạn muốn. Nếu bạn đã kích hoạt tính năng Excel’s Show Paste Options (có trong bảngAdvanced của hộp thoại Excel Options), bạn sẽ thấy icon Clipboard ngay lập tức sau khi dán đoạn văn bản vào trong bảng tính. Người dùng có thể chọn Match Destination Formatting từ menu Clipboard dạng drop-down để loại bỏ những định dạng không cần thiết.

Nếu đang sử dụng Excel 2010, chắc hẳn bạn sẽ thấy thích khi sử dụng giải pháp Paste Special này:

a. Copy đoạn văn bản từ trên Web.

b. Trong Excel, kích vào nơi bạn muốn insert đoạn văn bản.

c. Chọn Paste từ menu dạng drop-down và chọn Match Destination Formatting.

Sử dụng lựa chọn này để copy dữ liệu ngoài, không chỉ văn bản Web vào Excel.

10: Paste quy chiếu

Người dùng có thể quy chiếu một ô bằng cách dẫn địa chỉ một ô với dấu bằng. Ví dụ, điền =A1 để quay trở lại nội dung của ô A1. Thông thường, chúng ta sử dụng những quy chiếu này ở những biểu thức và công thức lớn hơn. Thi thoảng, chúng ta vẫn quy chiếu một ô với chính nó. Paste Link có thể giúp khi quy chiếu nhiều ô:

a. Chọn dãy cần quy chiếu rồi nhấn [Ctrl] + C.

b. Chọn ô mục tiêu rồi nhấn Paste Link từ menu Paste dạng drop-down.

Sử dụng Paste Link nhanh hơn so với việc quy chiếu thủ công.

Phím tắt cho những hành động Paste.

Phím tắt cho những hành động Paste.

Theo QTM